Thuocbietduoc Hỏi đáp Diễn đàn Rao vặt
Sức khỏe cộng đồng | Chuyên đề bệnh | Mẹ và bé | Trẻ em | Phụ nữ | Người cao tuổi | Nam giới | Giới tính
Tâm lý | Cuộc sống | Dinh dưỡng | Làm đẹp | Giải trí, thư giãn
  Rao vặt |Thông tin thuốc |Mua thuốc |Bán thuốc
Tìm đối tác |Tuyển dụng | Tìm việc
  • Giới thiệu
  • Nội quy
  • Góp ý
  • Các cấp bậc
  • Chào mừng các bạn!

    Nếu bạn chưa là thành viên mời bạn Đăng ký làm thành viên rất nhanh chóng,đơn giản và miễn phí.
    Để tham gia vào các thảo luận, thêm bài viết... bạn hãy Đăng nhập tại đây
    Chúc các bạn có những giây phút hạnh phúc!
    Chào mừng khách Tìm kiếm | Chủ đề có bài mới | Thành viên | Đăng nhập | Đăng Ký

    Điều Trị:Bệnh Vẩy Nến Á Sừng bằng sản phẩm mới nhất Tùy chọn · Xem
    thacsythienquang
    Đã gửi: 9 giờ 46 phút 52 giây, chủ nhật, ngày 14/3/2010

    Danh hiệu: Thành viên thân thiết
    Nhóm: Member

    Gia nhập: 8/25/2009
    Bài viết: 70
    Điểm: 365
    Đến từ: Hà nội
    Bệnh vẩy nến là do sự rối loạn điều tiết tạo nên một màng ngăn bám chặt trên da. Màng bám này sản sinh tế bào nhanh gấp 10 lần so với bình thường rồi chết. Nhưng thay vì mất đi như tế bào chết bình thường thì nó nổi lên thành từng vẩy trắng.
    Bệnh vảy nến thường xuất hiện ở đầu gối, khuỷu tay, da đầu nhưng đôi khi cả ở thân thể, gan bàn tay, bàn chân và các ngón chân. đôi khi xuất hiện toàn thân, các vảy trắng bong ra khi gãi và để lại một lớp dưới màu hồng, đôi khi có rớm máu
    Vẩy nến được xem như một tình trạng tăng sinh quá mức của các keratinocyte ở thượng bì dưới sự kích thích của các lymphocyte ở bì. Cơ chế chính xác và dây chuyền tương tác giữa các keratinocyte và các tế bào miễn dịch vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng cho thấy các tế bào T hoạt hóa là những chất điều chỉnh miễn dịch chủ yếu trong sinh bệnh học của vẩy nến.Thoạt đầu, các tế bào T hoạt hóa xâm nhập vào lớp bì ở vùng da tổn thương nhờ các phân tử kết dính tế bào và cytokine tiền viêm interleukin-8 (IL-8). Đa số tế bào T ở thượng bì là loại CD4+helper. Các tế bào T bị kích hoạt bởi các tế bào nhận diện kháng nguyên. Quá trình này sản xuất ra nhiều loại cytokine. Các tế bào T sản xuất IL-2 và interferon-y (INE-y) được gọi là tế bào Th1 và miễn dịch trung gian tế bào. Ngược lại, các tế bào T sản xuất IL-4, IL-5 và IL-10 được gọi là các thế bào Th2 và góp phần trong miễn dịch cơ thể. Các cytokime Th1 là những chất tiền viêm, còn các cytokine Th2 là những chất chống viêm. Trong vẩy nến, loại Th1 chiếm ưu thế còn Th2 ít hơn.
    Triệu chứng.
    Bệnh thường xuất hiện từ từ, tồn tại một thời gian rồi thuyên giảm. Sau đó bệnh tái phát, nhất là khi có chấn thương da, cháy nắng, viêm, dị ứng thuốc. Dấu hiệu đặc biệt nhất là những mảng vết thương trên da khô, hình bầu dục hoặc tròn, mầu hồng đỏ phủ lên trên là nhiều lớp vẩy mầu bạc. Các vết này rất ngứa và đau. Ngứa vì da khô và dây thần kinh dưới da bị một vài hóa chất kích thích, khiến cho não phát ra cảm giác ngứa, muốn gãi. Ngoài ra, dấu vết trên da có thể là:
    -vẩy nến giọt mầu đỏ hình bầu dục.
    -vẩy nến đảo ngược ở nếp gấp trên da như cơ quan sinh dục, nách.
    -vẩy nến mủ với bóng nước chứa mủ.
    -vẩy nến từng mảng lớn mầu đỏ với hậu quả trầm trọng như rối loạn thân nhiệt, mất cân bằng chất điện giải cơ thể.
    -vẩy nến khớp xương, gây trở ngại cho cử động.
    Bệnh thường có trên da đầu, sau vành tai, khuỷu tay, đầu gối, hông, vùng cơ quan sinh dục. Móng tay, lông mày, rốn, hậu môn cũng thường bị ảnh hưởng. Đôi khi bệnh lan khắp cơ thể.
    Khi lành, vết thương thường không để lại sẹo và ở trên đầu, tóc vẫn mọc.
    Trong 60% các trường hợp, móng tay móng chân cũng bị bệnh: móng chẻ, mất mầu dầy cộm nom như bị bệnh nấm.
    Khoảng từ 10 tới 30% bệnh nhân bị viêm khớp-vẩy nến, thường thường ở tuổi 30 tới 50.
    Định bệnh
    Không có thử nghiệm máu hoặc phương thức khoa học nào để chẩn đoán bệnh. Bác sĩ xác định bệnh qua hình thù, mầu sắc của vẩy trên da, đôi khi lấy một chút mô ở vùng bệnh để tìm tế bào đặc biệt vẩy nến.
    Tiên lượng bệnh - Vẩy nến là bệnh không lây lan. Trừ khi bệnh xâm nhập xương khớp hoặc nhiễm độc, vẩy nến thường không gây ra ảnh hưởng xấu cho sức khỏe tổng quát. Nếu có, chỉ là một chút ảnh hưởng tâm lý, buồn phiền lo âu vì da chẳng giống ai.
    Bệnh nhẹ khi dưới 2% da bị ảnh hưởng; trung bình khi da có dấu hiệu bệnh từ 3 đến 10% và nặng khi vẩy bao phủ 10% da.
    Tế bào ở các vẩy tăng sinh rất mau, chưa kịp rụng đã ra lớp khác nên các vẩy chùm đè lên nhau. Bệnh gây khó chịu nhất khi xuất hiện ở da đầu, bìu dái, bàn tay, bàn chân và móng tay. Vẩy nến ở lòng bàn tay, bàn chân gây nhiều khó khăn cho người bệnh khi đi đứng, lao động chân tay. Xương khớp cổ tay, cổ chân, đầu gối, lưng quần và cổ cũng thường bị ảnh hưởng và gây ra trở ngại di động, làm việc cho người bệnh.
    Điều trị - Điều trị vẩy nên là cả một thách thức với mục đích chính là gián đoạn sự tăng sinh quá nhanh của tế bào biểu bì, giảm viêm da, vẩy nến.
    Có nhiều phương thức trị liệu khác nhau. Bác sĩ sẽ lựa phương thức thích hợp cho từng bệnh nhân và tùy theo bệnh nặng hay nhẹ. Điều trị tại chỗ bạn có thể tắm gội bằng Sastid hoặc Polytar. Bôi mỡ Salicylé 5% hoặc mỡ BenzoSaly vào tổn thương có nhiều vẩy. Nếu tổn thương bớt vảy hoặc hết vảy thì bạn có thể bôi các chế phẩm có chứa steroid như Temprosone, Flucinar, Synalar, Fucicort, Diprosalic…Song song là điều trị toàn thân khi bệnh trong giai đoạn bùng phát thì bạn nên dùng một đợt kháng sinh như Ampicilline hoặc Rovamycin. Có thể dùng thêm thuốc chống ngứa, chống dị ứng như Phenecgan hoặc Chlorpheniramine lúc đi ngủ.
    Các phương thức điều trị đó là:
    1- Thuốc thoa ngoài da:
    Với dạng bệnh nhẹ, thuốc thoa trên da có thể giải quyết vấn đề. Bệnh nặng hơn, cần phối hợp với thuốc uống hoặc chích.
    a-Thuốc Corticosteroids như Ultravate, Tenovate, Psorcon, rất công hiệu và thường được dùng ở trường hợp bệnh nhẹ hoặc trung bình.
    b-Thuốc Donovex thuộc nhóm Vitamin D tổng hợp làm giảm viêm và ngăn sự tăng sinh tế bào da.
    c-Thuốc Retinoid từ sinh tố A như Tazorac.
    2- Quang trị liệu với ánh sáng mặt trời, các tia tử ngoại B (UBV), quang hóa trị liệu PUVA (Psoralen Plus Ultraviolet A), laser xung nhuộm màu tía (Pulsed Dye Laser).
    3- Dược Phẩm - Có nhiều dược phẩm đặc trị bệnh vẩy nến:
    a- Rheumatrex (Methotrexate). Thuốc này được dùng trong trường hợp bệnh nặng, tái phát và không bớt sau khi dùng các phương thức khác. Thuốc phải do bác sĩ quyết định và theo dõi sau khi đã chẩn định bệnh bằng sinh thiết mô bào. Thuốc có nhiều tác dụng phụ mạnh.
    b- Neoral (Cycloporine) Thuốc dùng khi bệnh nặng, không thuyên giảm với PUVA, Retinoid hoặc Methotrexate. Thuốc có thể gây ra cao huyết áp và bệnh thận.
    c- Retinoid uống (Acitretin), Tegison cho các trường hợp vẩy nến trầm trọng.
    d- Dược phẩm sinh học Alefacept (Amevive), etanercept (Enbrel), infliximab (Remicade). Đây là các loại thuốc chích có tác dụng trên tế bào miễn dịch T cell để trị bệnh được nghi là do miền dịch gây ra và được dùng khi các trị liệu khác không thành công.
    Giới thiêu sản phẩm tốt nhất chữa bệnh vẩy nến và Á sừng :Kliquidclorophyll-A
    -Kliquidclorophyl-Â ức chế phát triển của vi khuẩn và nấm, kích thích việc phục hồi các mô đã bị hư hại, trị bệnh vẩy nến vô cùng hiệu nghiệm, kết quả thật nhanh chóng không ngờ.Thực tế cho thấy, rất nhiều bệnh nhân đã được chữa dứt bệnh vẩy nến trong vòng 30 ngày đến 60 ngày (với trường hợp nặng nhất) -Chlorophyll giúp thải độc cho gan,lọc máu, tiêu diệt nấm và vi khuẩn trên da giúp cho da nhanh chóng phục hồi các tổ chức mô .Kết hợp với Flucinar bôi ngoài hiệu quả đáp ứng càng cao
    Tại nhiều nước châu Âu (Đức, Anh, Pháp …) và FDA tại Mỹ coi chlorophyll và chlorophyllin như một thực phẩm-thuốc an toàn, không có giới hạn về liều lượng uống (Báo cáo của FAO-WHO số 557, năm 1974). Chlorophyllin đã được áp dụng rất nhiều trong việc điều trị các bệnh thoái hoá da,Viêm da, nhiễm trùng da, tăng huyết áp, tiểu đường, alzhermer,vẩy nến , á sùng …
    Các lợi điểm chính của việc sử dụng chlorophyllin:
    - Nguồn gốc tự nhiên, có thể sử dụng lâu dài, không có tác dụng phụ và không tương tác với các thuốc khác.
    - Ức chế sự phát triển của các vi khuẩn, đặc biệt là các vi khuẩn kỵ khí (có nhiều trong đường tiêu hoá và khoang miệng, mảng bám răng,các lớp tế bào da bị chết) các vi khuẩn này bị ức chế bởi oxy được sinh ra từ chlorophyllin. Chất diệp lục còn có khả năng sát khuẩn, khử mùi trong các vết thương, vết loét. Năm 1948, cố DS. Đỗ Tất Lợi là người đầu tiên sử dụng chất diệp lục chiết suất từ cây xanh vào mục đích chữa trị các vết thương nhiễm trùng.Các vết lở loét ngoài da cho bộ đội.
    Hướng dẫn sử dụng: Ngày uống từ 1 đến 3 lần, mỗi lẫn pha 1 thìa dung dịch vào 250 ml nước, lắc kỹ trước khi sử dụng .Dùng bôi ngoài: vào buổi tối trước khi đi ngủ
    Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm
    Bệnh viên đa khoa Sông Thương –Ts Thienquang: ĐT :0972690610
    Nhà phân phối :Công ty dươc phẩm Phú Hải : DT 02403856218
    Web: http://thuocchuabenh.net - Emall : thacsythienquang@yahoo.com.vn
    Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :
    Chi nhánh số 1: Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ ,bác sỹ Nguyễn Huy Cường
    Thuốc có bán tại các chuyên khoa BV tuyến trung ương
    CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC
    Ai đang xem chủ đề này?
    Guest


    Di chuyển
    Bạn không thể tạo chủ đề mới trong diễn đàn này.
    Bạn không thể trả lời chủ đề trong diễn đàn này.
    Bạn không thể xóa bài của bạn trong diễn đàn này.
    Bạn không thể sửa bài của bạn trong diễn đàn này.
    Bạn không thể tạo bình chọn trong diễn đàn này.
    Bạn không thể bỏ phiếu bình chọn trong diễn đàn này.

    Diễn đàn chính RSS : RSS

    Trang chủ Giới thiệu Góp ý Đăng ký thành viên Đăng nhập
    "Diễn đàn Thuốc và Biệt Dược" .
    © Copyright Thuocbietduoc.com.vn - Email: contact@thuocbietduoc.com.vn
    - Các thông tin trao đổi trên diễn đàn Thuocbietduoc.com.vn chỉ mang tính chất tham khảo - Khi chữa bệnh cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
    - Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý chữa bệnh dựa theo các thông tin trên diễn đàn Thuocbietduoc.com.vn